Sau đó, nghề
này trở thành nghề chính của thôn. Do đặc điểm riêng của nghề, dân gian gọi nơi
đây là thôn Lạt. Sau này, do biến âm, người ta gọi thành thôn Lặt, tên chữ là
Thủ Pháp, thuộc tổng Thủ Pháp, tỉnh Sơn Tây. Ngày nay, thôn Lặt là thôn người
Mường thuộc xã Ba Vì, TP Hà Nội. Do người Mường là anh em ruột thịt với người
Kinh nên thôn cũng có đình.
Đình Thủ Pháp được xây
dựng từ thế kỷ XVIII, thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, trên một gò đất cao nhìn về
phía Tây, phía trước là dòng sông Đà, phía sau tựa lưng vào núi. Năm 1948, đình
bị tàn phá. Đến năm 2018, dân thôn đóng góp tiền của để dựng lại đình trên nền
cũ.
Ông Nguyễn
Tuấn Sơn sinh ra và lớn lên ở thôn Lặt kể rằng khi làm đình, dân làng phải lên
núi chọn gỗ tốt thuộc hàng tứ thiết. Những cây cụt ngọn, cây không có dây leo ở
gốc hoặc không có tán sum suê đều không được dùng. Đình làng dựng theo hướng
Tây, theo lời các cụ truyền lại, đó là hướng tốt. Ngày đào móng đình, ngày đặt
thượng lương (cây nóc) đều phải chọn ngày giờ cẩn thận, sắm lễ vật xin phép thần
đất, thần núi. Cụ già cao tuổi nhất thôn được cử lĩnh trọng trách thực hiện hai
nghi lễ trên phải là người có phẩm hạnh, vợ chồng song toàn.
Hơn 80 năm
qua, trải bao thay đổi, người Mường ở thôn Lặt vẫn nhắc nhau gìn giữ những nét
đẹp của cha ông. Lễ hội ở thôn Lặt mở vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch, kỷ niệm
ngày sinh Đức Thánh. Đêm 12 rạng sáng 13 tháng Giêng, làng chọn một đôi nam nữ
chưa vợ chưa chồng, trẻ khỏe, xinh đẹp đi thuyền ra dòng nước “hai” của sông Đà
múc nước đổ vào ống tre, mang về đình làm lễ mộc dục. Sáng 14 tháng Giêng, các
thành viên mặc áo the, khăn xếp rước kiệu lên đền Trung thờ Đức Thánh Tản để
xin chân nhang rước về đình Lặt, sau đó các quan viên tiến hành các tuần tế. Lễ
vật dâng Thánh là lợn thịt để nguyên con, thủ lợn phủ mỡ chài.
Trước hội cả
tháng, Ban khánh tiết đã chọn những người tham gia đội tế và người phục dịch.
Những người có mặt trong đội hình phải còn đủ vợ chồng, gia đình hòa thuận; nhà
có người thân mất chưa hết tang thì không được tham gia. Tại đình Lặt, sau khi
tế xong, lợn lễ thần được pha thái để chia đều cho các suất đinh. Lệ làng quy
định, người đến dự hội phải chỉn chu từ trang phục, hành vi đến lời nói. Ai
phạm một trong ba điều này, sau khi bị nhắc nhở mà cố tình không thay đổi thì
bị phạt. Người bị phạt phải sắm một buồng cau, hương hoa và rượu để lễ tạ thần,
hứa sửa lỗi và hẹn dịp hội năm sau vẫn đến dự bình thường.
Hằng năm,
vào ngày 27 tháng Chạp, thôn có lễ đóng cửa rừng. Lễ vật cúng thần gồm xôi, gà,
bánh chưng ống. Ngày mồng 7 tháng Giêng là lễ khai hạ, mừng người và đất bước
vào một chu kỳ phát triển mới. Hai lễ này được tổ chức tại chân núi, ở cùng một
địa điểm. Người cao tuổi nhất thôn được cử đọc lời kính cáo với thần. Trong 10
ngày giữa hai kỳ lễ, rừng được nghỉ ngơi, ai xâm phạm đến rừng, dù là việc nhỏ
nhất, cũng bị dân thôn phạt vạ.
Do được
kiêng kỵ và được người Mường vùng Ba Vì thực hiện nghiêm ngặt, trong đó có
người dân thôn Lặt, nên sau bốn thế kỷ gắn bó với vùng đất này, rừng Ba Vì vẫn
được gìn giữ và phát triển. Ông Nguyễn Tuấn Sơn kể, năm 1957, có đêm một con hổ
lớn từ núi Ba Vì về, đi lại tự nhiên trong sân nhà ông để kiếm mồi. Không ai
nảy ý định bắt nó, vì nó đến rồi lại đi. Tiếng hổ hú vang vọng tới chân núi Chủ
của nước ta./.